Thị trường phát điện cạnh tranh: bên muốn bán nhiều, bên muốn bán ít

Nếu EVN không tính đến việc thay đổi tỉ lệ này thì với vai trò là cơ quan vận hành chủ lực trong hệ thống và thị trường điện, nếu gặp điều kiện thời tiết không thuận lợi, phải huy động các nguồn điện giá cao, cơ hội kiểm soát chi phí gặp khó khăn thì chính EVN phải gánh chịu đầu tiên. Bà Oanh cho rằng, doanh nghiệp có thể gặp phải những rủi ro nếu tỷ lệ mua bán điện thông qua thị trường không thay đổi hoặc không linh hoạt.

thi-truong-phat-dien-canh-tranh-ben-muon-ban-nhieu-ben-muon-ban

Thị trường phát điện đã minh bạch hơn Để chuẩn bị cho thị trường bán buôn điện cạnh tranh có thể vận hành thử nghiệm trên giấy bắt đầu từ năm 2016, Cục điều tiết điện lực (Bộ Công thương) đã tổ chức một cuộc họp tổng kết “Thị trường phát điện cạnh tranh sau 3 năm vận hành”, diễn ra tại Hà Nội hôm 26-8. Theo ông Nguyễn Anh Tuấn, Cục trưởng Cục điều tiết điện lực, thị trường phát điện cạnh tranh đã đi vào vận hành từ tháng 7-2012 đến nay. Ban đầu có sự tham gia của 31 nhà máy điện với tổng công suất lắp đặt là 9.300 MW.

Đến nay đã có 59 nhà máy điện (tổng công suất 14.796 MW) trực tiếp tham gia thị trường. Như vậy tính ra các nhà máy điện tham gia thị trường chiếm 41,63% tổng công suất lắp đặt toàn hệ thống. Để đảm bảo cho thị trường này vận hành, Bộ Công thương đã ban hành nhiều văn bản để có khuôn khổ pháp lý trong giao dịch như Thông tư số 30 giải quyết những vướng mắc về giao dịch của các đơn vị trên thị trường như chào giá, thanh toán, đăng ký tham gia của các đơn vị mới,… hoặc các quy định về phương pháp xác định giá dịch vụ phụ trợ, một quyết định quan trọng cho thị trường phát điện và sau này là để thực thi trong thị trường bán buôn điện cạnh tranh.

Thị trường phát điện cạnh tranh là một bước đi minh bạch của thị trường điện nói chung. Nó đã nâng cao tính chủ động cho các nhà máy sản xuất điện tham gia thị trường trong và ngoài EVN, cho dù 70% nguồn phát trên thị trường đều xuất phát từ EVN và các công ty có liên quan đến EVN, sau đó là các công ty của Tổng công ty điện lực dầu khí (PV Power) và các công ty của Tập đoàn công nghiệp than- khoáng sản (TKV).

Tính chủ động của các đơn vị tham gia thị trường, nhất là khâu chào giá, có thay đổi rõ rệt. Giá điện trên thị trường cơ bản phản ánh đúng quy luật cung cầu trên thị trường. Giá thường cao vào cuối mùa khô và thấp vào mùa mưa từ tháng 7 đến tháng 9 hàng năm. Nguyên nhân là sản lượng thủy điện cao vào các tháng này, nhất là thời điểm có bão lũ, nên có thể về mức giá sàn rất thấp.

Tổng doanh thu trực tiếp từ thị trường điện của các nhà máy điện trong ba năm vận hành thị trường là 140.715 tỉ đồng. Có đến 81,14% doanh thu trong số này được thanh toán theo giá điện năng thị trường, phần còn lại là doanh thu mua thêm sản lượng, trong đó phần sản lượng mua thêm đột biến rất ít (2,82%). Thị trường vẫn phụ thuộc vào các hợp đồng cố định Nhưng có một thực tế đã được nói đến từ khi thị trường phát điện cạnh tranh ra đời là chỉ có 5% sản lượng điện được phát trên thị trường là kết quả của các cuộc giao dịch, chào giá theo thị trường. 95% sản lượng điện huy động còn lại là hợp đồng theo giá chính thức được đàm phán cho cả đời dự án.

Thường thì các hợp đồng cho cả đời dự án này phải được chủ đầu tư ký với EVN hay các Tổng công ty mua bán điện trực thuộc EVN. Tuy nhiên, cũng có nhiều dự án thủy điện hay nhiệt điện lớn của các doanh nghiệp ngoài EVN vẫn đầu tư, xây dựng và phát điện bằng các hợp đồng tạm tính, sau đó sẽ đàm phán giá mua bán điện. Ông Lê Trung Dũng, Phó Tổng giám đốc PV Power cho biết đơn vị này có hai nhà máy nhiệt điện khí Nhơn Trạch 1 và Nhơn Trạch 2, tham gia thị trường phát điện cạnh tranh ngay từ những ngày đầu.

Nay có thêm hai nhà máy thủy điện là Hủa Na và Đakrinh cùng tham gia. Hiện doanh nghiệp đang gặp phải một số khó khăn. Lý do là theo quy định, sản lượng điện hàng năm được phân bổ cho các nhà máy điện tương đương 90% sản lượng điện phát theo hợp đồng nhiều năm của các nhà máy đã ký. Tỷ lệ này có thể giảm xuống 81%, nghĩa là tăng tỷ lệ mua điện trên thị trường cạnh tranh hơn nhưng về cơ bản, việc mua bán điện vẫn thông qua các hợp đồng cố định đã ký hoặc tạm ký từ trước.

Còn việc mua bán điện trên thị trường phát điện cạnh tranh theo ngày, giờ linh hoạt hơn. Việc mua bán theo giá cố định có nghĩa rằng nhà máy chỉ thu hồi chắc chắn được 90% chi phí cố định. 10% còn lại thu hồi thông qua phần sản lượng bán ra trên thị trường. Song do giá thị trường thông thường thấp hơn giá hợp đồng của các nhà máy nên phần doanh thu trên thị trường của sản lượng bán ra này không đủ thu hồi chi phí cố định cho nhà máy. Ông Dũng cho rằng nên xem xét phân bổ sản lượng hàng năm cho nhà máy ở mức có thể thu hồi đủ chi phí cố định, nhất là các nhà máy mới. Trong khi đó, bà Trần Kim Oanh, Tổng giám đốc CTCP thủy điện Geruco Sông Côn, lại có quan điểm ngược lại. Bà cho rằng, khi tỷ lệ tham gia thị trường trong tổng công suất toàn hệ thống tăng lên thì giá thị trường điện năng sẽ phản ánh đúng như cầu tiêu thụ điện, thể hiện rõ tính cạnh tranh.

Nếu EVN không tính đến việc thay đổi tỉ lệ này thì với vai trò là cơ quan vận hành chủ lực trong hệ thống và thị trường điện, nếu gặp điều kiện thời tiết không thuận lợi, phải huy động các nguồn điện giá cao, cơ hội kiểm soát chi phí gặp khó khăn thì chính EVN phải gánh chịu đầu tiên. Bà Oanh cho rằng, doanh nghiệp có thể gặp phải những rủi ro nếu tỷ lệ mua bán điện thông qua thị trường không thay đổi hoặc không linh hoạt.

Thứ nhất là nếu hạn hán, giá thị trường cao nhưng không có nước phát điện, nhà máy không đủ sản lượng điện hợp đồng dẫn đến doanh thu hợp đồng âm, thiệt hại lớn. Thứ hai là mùa lũ thì nước lại dồi dào, tình trạng thừa cung, giá thị trường bằng không, cạnh tranh bán điện ảnh hưởng đến lập lịch huy động trên hệ thống. Hay nói khác đi là điều kiện nào cũng có rủi ro lớn. Ngành điện đã mở ra thị trường cạnh tranh giai đoạn 1, chuẩn bị vận hành thị trường bán buôn từ năm 2016 thì phải có giải pháp hoàn thiện và linh hoạt hơn trong các biến động đầu vào khi xây dựng biểu giá công suất, nhằm tăng độ nhạy của ngành và có sự tin cậy về chính sách nhằm thu hút đầu tư.

Cục trưởng Nguyễn Anh Tuấn cũng thừa nhận rằng ngay cả khi thị trường bán buôn điện vận hành từ năm 2016 thì thực ra cũng chỉ là vận hành trên giấy do cần thời gian chuẩn bị kỹ cho các công ty điện lực và khách hàng lớn thực tập tham gia thị trường. Từ năm 2017 trở đi sẽ đưa các công ty vào thị trường điện thực tế. Nghĩa là các công ty có thể mua được từ 5 đến 10% sản lượng điện của các nhà máy thông qua thị trường bán buôn, còn lại tiếp tục mua qua thị trường phát điện cạnh tranh. Ông nói cũng sẽ xem xét nới tỉ lệ mua điện trên thị trường phát điện cạnh tranh để kêu gọi được nhiều doanh nghiệp tham gia.